Thích ứng Biến đổi khí hậu với cây Năng Tượng

Tổng quan về cây Năng Tượng

Việt Nam là quốc gia có diện tích nước mặt lớn, kể cả nước ngọt, lợ và mặn. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các mô hình sinh kế dựa vào tự nhiên và theo xu hướng phát triển bền vững. Sinh kế được hiểu đơn giản là phương tiện đảm bảo đời sống của con người. Sinh kế có thể được xem xét ở các mức độ khác nhau, trong đó phổ biến nhất là sinh kế quy mô hộ gia đình.

Theo Lê Anh Tuấn (2011) Đồng bằng Sông Cửu Long được xác định như là một trong những vùng nhạy cảm và dễ phơi lộ với hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Với giả thiết rằng sinh kế của người dân địa phương đang bị ảnh hưởng mạnh do các thay đổi bất thường của các điều kiện khí hậu tự nhiên.. Vùng ĐBSCL có 03 vùng sinh thái chính: vùng ngập lũ (ngập sâu và kéo dài từ 2-3 tháng/năm), vùng giữa (vùng phù sa nước ngọt, ngập nông và nhiễm mặn nhẹ), và vùng ven biển (trên 6 tháng bị nhiễm mặn ở các mức độ). Sự phân vùng một cách tương đối theo nguồn nước này được minh hoạ như ở hình 1.

Hình 1: Ba vùng sinh thái dựa vào đặc điểm nguồn nước ở ĐBSCL (Nguồn: Tuan et al,. 2008)

Bạc Liêu là một tỉnh thuộc duyên hải vùng bằng sông Cửu Long, nằm trên bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Việt Nam.  Ở huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu đã từ lâu người dân đã chuyển đổi canh tác lúa sang nuôi tôm để phù hợp với đất nhiễm mặn và nước lợ. Tuy nhiên Bức xúc là trong đó có khoảng 30% hộ rất nghèo, thu nhập của họ chỉ từ 150.000 – 200.000 VNĐ/người/tháng, thấp hơn những hộ nghèo của vùng thâm canh nông nghiệp. Điều đáng nói là chính họ, những người mà vài năm trước đây từng là triệu phú, với thu nhập hàng trăm triệu mỗi năm. Cái gì đã đưa họ lên cao và dìm họ xuống vực? – Con tôm! (Dương Văn Ni,2006) và giải pháp mà các nhà khoa học và người dân đã tìm ra và áp dụng là mô hình trồng năng tượng.

Năng tương (Hến biển) có tên khoa học là Scirpus littoralis Schrab (theo sách phân loại của Phạm Hoàng Hộ, quyển III, tập 2, trang 633, NXB Mekong, 1993) nông dân huyện Đông Hải, Giá Rai (Bạc Liêu) gọi là cỏ năng tượng. Đây là cây họ lác (Cyperaceae), thân hình trụ tròn, cao đến một mét hay hơn, khi khô có màu vàng rơm. Cây mọc tự nhiên bằng hạt trôi theo nước hoặc từ gốc mùa trước. hến biển có thể sống với mật độ rất dày hệ thống rễ rất sâu và chằng chịt giúp giữ đất tốt cũng như có chức năng lọc mặn

Kỹ thuật canh tác

Vì cây Năng Tượng là cây mọc tự nhiên nên kỹ thuật canh tác khá đơn giản. Năng Tượng mọc tự nhiên trong các đầm lầy phèn, mặn, chu kỳ phát triển của cây mọc vào đầu mùa mưa, ra hoa khoảng tháng 11 – 12 và dần chết đi vào khoảng tháng 3 – 4. Có khả năng chịu được độ mặn lên đến 20ngập sâu đến 0.5m, có thể sống với mật độ rất dày, từ 800 đến 1.000 cây/m². Cây năng mọc tự nhiên mà không cần sử dụng thêm phân bón hoặc thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, cần duy trì mực nước sâu trên 70cm nhằm kích thích cây năng mọc cao, đạt yêu cầu xuất bán. Ngoài ra, vào giai đoạn sinh trưởng ban đầu cần cắt bỏ đồng loạt nhằm kích thích sự phát triển đợt sau của cây năng được đồng đều.

Theo ông Quân, trong môi trường nước lợ cây năng tượng phát triển rất tốt, thân mập, cao to. Vào mùa nước mặn (mùa khô), do nắng nóng và nước có độ mặn cao, cây kém phát triển và chuyển qua giai đoạn sống tiềm sinh vào thời gian đỉnh điểm của mùa khô. Đến mùa mưa thì cây từ gốc cũ của mùa trước lại tự mọc lên và tiếp tục vòng đời phát triển. Hiện nay, cây phát triển tự nhiên trong ao tôm và không cần sử dụng phân bón hay loại thuốc bảo vệ thực vật nào. Mỗi năm ông Quân thu hoạch 2 lần (6 tháng cắt năng 1 lần). Phương pháp thu hoạch thủ công, với 2 nhân công lao động. Một người cắt năng bằng dụng cụ đẩy tự chế, người còn lại có nhiệm vụ thu gom, cắt đọt và bó lại. Năng được mang lên bờ ao và để qua 1 đêm cho bớt nước trước khi vận chuyển vào sân phơi.

Nhìn chung, kỹ thuật canh tác cây năng tượng khá đơn giản, tuy nhiên trong khâu thu hoạch còn gặp rất nhiều khó khăn do cần khá nhiều nhân công và phương tiện thu hoạch còn thô sơ. Do đó, thời gian thu hoạch bị kéo dài và tốn nhiều công cho người canh tác. Hiện nay, các hộ dân đang gặp khó khăn trong công đoạn phơi và bảo quản năng vào mùa mưa. Nếu thời tiết mưa liên tục, năng không phơi được sẽ bị mốc, màu sắc không đẹp như yêu cầu của nơi thu mua. Năng không đạt yêu cầu xuất bán sẽ làm giảm giá thành và sản lượng.

Lợi ích kinh tế – môi trường

Trong hệ sinh thái tự nhiên, cây năng tượng có vai trò tiên phong trong của vùng đầm lầy ven biển. Chúng phát triển trên nền bùn nhão giúp giữ lại lớp phù sa bồi lấp. Trong hệ sinh thái ao nuôi tôm, năng tượng giúp ổn định nhiệt độ nước và làm giảm các chất ô nhiễm do quá trình nuôi tôm tạo ra.

Năng tượng giúp làm giảm lượng nitrite trong ao nuôi tôm từ mức nguy hiểm xuống mức an toàn (0,1mg/L trong 1 tuần lễ. Ngoài khả năng làm giảm nồng độ nitrite, năng tượng còn có khả năng giảm nồng độ các chất khác như nitrate, P, K. Hệ thống rễ chằng chịt của cây chính là nơi lọc mặn và giữ đất rất tốt. Trong quá trình phát triển, chồi non của cây là nguồn thức ăn của tôm, cua, cá. Vào cuối mùa, khi thân cây già chết đi, xác bã hữu cơ cung cấp nguồn dinh dưỡng cho môi trường.

Về lợi ích kinh tế, kinh nghiệm của ông Võ Văn Quân nên giữ năng tượng khoảng 30% diện tích ao nuôi tôm sẽ làm tôm lớn nhanh và ít rủi ro. Khảo sát từ năm 2003 cho thấy các ao có trồng năng tượng cho rủi ro thấp hơn các ao nuôi khác. Đặc biệt, trong năm 2004, vào đợt nắng nóng và tôm chết hàng loạt, sự chênh lệch giữa các ao nuôi có và không có trồng năng tượng trở nên rõ ràng hơn. Năng tượng khô, làm nguyên liệu cung cấp cho ngành thủ công mỹ nghệ tạo những tác phẩm có giá trị, thân thiện với môi trường, xuất khẩu nước ngoài mang lại giá trị kinh tế cao, giúp ổn định thu nhập cho người dân.

Cũng theo ông Võ Văn Quân “những năm trước đây tôi chưa biết về lợi ích của cây năng nên cây mọc trong ao thì chỉ đến đợt là cắt bỏ để tránh hạn chế diện tích mặt nước nuôi tôm, nhưng từ sau năm 2017 tôi đã bắt đầu trồng và khai thác năng tượng như là một là một loại hình kinh tế của gia đình”.

Các giải pháp cần thiết

Từ thực tế, năng sau khi thu hoạch phải vận chuyển khoảng cách xa đến nơi tập kết, qua nhiều kênh, bờ, ao nuôi tôm. Để dễ dàng cho việc vận chuyển đến nơi phơi sấy, biện pháp sử dụng đường ray vận chuyển qua các bờ ao, kênh được đề  xuất  nhằm giảm công lao động, rút ngắn thời gian vận chuyển.

Sau khi vận chuyển vào nơi tập kết năng sẽ phải phơi thời gian trung bình khoảng 01 tuần trong điều kiện có nắng liên tục để năng đạt chất lượng theo yêu cầu. Tuy nhiên cây năng phát triển mạnh và được thu hoạch vào mùa mưa nên đây là một điều khó khăn trong việc phơi năng tượng. Từ thực tế như trên, cần có phương pháp phơi sấy thích hợp. Phương pháp sử dụng nhà sấy ứng dụng hiệu ứng nhà kính là giải pháp khả thi nhằm rút ngắn thời gian sấy và phù hợp với quy mô nông hộ. Ngoài  ra, biện  pháp này  còn  đảm  bảo giữ được màu sắc theo yêu cầu, hạn chế được sự bất ổn của thời tiết làm ảnh hưởng đến cây năng như ẩm, mốc.

MDY, 2019