The Flow Of Culture And Life: Ngư Cụ Đánh Bắt Thủy Sản Độc Đáo Trên Sông

           Miền Tây sông nước được biết đến là nơi được thiên nhiên ưu ái ban tặng nguồn thủy sản dồi dào, đa dạng các loại cá tôm vì thế con người nơi đây cũng trở nên hào sản, rất thật thà, chất phát và đặc biệt là thích nghi rất tốt. Điều này có thể dẫn chứng qua cách mà người dân khai thác cá từ đơn giản đến các biện pháp thông minh, hiệu quả với đa dạng các ngư cụ mà từ trẻ nhỏ câu chơi tới ngư dân chế tạo để khai thác cá. Những đứa trẻ thì chỉ cần vót cành tre nhỏ làm cần là có thể đi câu cá, không cần phải quá cầu kỳ và tốn kém. Kèm theo đó, mồi câu được chúng đào bắt trùng, bắt ốc bươu làm mồi hoặc đi lấy trứng kiến, trứng mối. Lớn hơn, chúng bắt đầu dùng đoạn tre to, dài khoảng 1 đến 2 mét, đục khoét, chẻ ra để tạo ra cây chỉa chùm hoặc cây chông. Sau đó kéo nhau đến mương, đìa cạn ngoài đồng để bắt cá. Xuất phát từ các yếu tố trên, nhiều làng nghề sản xuất ngự cụ, làng nghề đánh bắt cá cũng hình thành ngày một nhiều hơn. Đặc biệt là các hình thức đánh bắt cá trên sông.

         Từng loài cá tôm cua, hay theo dòng nước và khu vực mà người dân có những kiểu đánh bắt cá độc đáo và rất đậm chất người Miền Tây. Có thể kể đến trong số đó là cách đánh bắt cá heo sông, cá chạch lấu của người dân thượng nguồn An Giang. Họ dựa vào tập tính của các loài cá này sau đó thiết kế dụng cụ đánh bắt cá phù hợp. Đầu tiên, họ chọn cây tre to, dài sau đó khoét mỗi lóng tre 2 lỗ, 1 lỗ to ở phía đầu và 1 lỗ nhỏ ở phía dưới. Cây tre này được đặt theo hướng dòng chảy của sông, không cần bỏ mồi chỉ cấm sâu để cây có thể chịu được lực chảy và lượng nước chảy. Khi ấy, cá sẽ tự động vào đây trú ngụ và ở lại. Thời điểm nước rút trong ngày là có thể thu hoạch. Mỗi lóng tre có thể có từ 2-3 con cá. Chỉ dựa vào cách đánh bắt đơn giản này mà người dân đã có thể bội thu sau một ngày đánh bắt. Cùng thời điểm đó, một số hộ dân khác lại sử dụng những nhánh cây khô, cây gỗ chất thành đống dưới nước tại những nơi trống trải, thoáng, mé sông và nơi có nước chảy nhẹ. Đây được gọi là “chà” dùng để dẫn dụ tôm, cá vào ở. Người dân còn dùng các cọc lớn cấm xung quanh để giữ các nhánh cây và giữ lục bình trên mặt. Các đám chà thường khoảng 2 tháng sẽ bắt đầu tiếng hành dở chà. Người dân buộc lưới vào các cọc và cấm sâu xung quanh đám chà để giữ lại cá tôm không chạy đi, tiến hành vớt những nhánh cây khô đặt qua bên đám chà mới. Sau khi đã đời hết cây trong chà ra đám chà mới, người dân bắt đầu tóm lưới phía dưới rồi thu hoạch cá, tôm. Mỗi lần thu hoạch cần đến cả chục người, người thì tấn lưới, người thì dở chà chất qua đống mới, phụ nữ và trẻ em thì bắt cá, canh xuồng tạo ra không khí nhộn nhịp và cũng mang lại một dịp bội thu cho người dân. Sau khi bắt, người dân chia phần cho những người tham gia. Phần dư còn lại, chủ của đám chà lựa ra cá bán và cá để lại làm khô hay là mắm dự trữ để dành chế biến thức ăn.

 

          Khi mùa nước nổi vừa lên, người dân bắt đầu đi cấm câu, đặt trúm lươn, đặt xà di cá rô hay đặt lọp tôm, lọp nhủi bắt cá lóc. Các ngư cụ này muốn đạt hiệu quả cao cần phải dựa vào tay nghề, kinh nghiệm có được mới có thể đặt đúng chổ, đúng khu vực có nhiều. Không chỉ thế còn phải lựa chọn đúng mồi, phù hợp cho loại muốn khai thác. Thời gian thăm tốn hơn nửa ngày, vì thế người đặt trúm, đặt xà di hay đặt lọp phải phân bổ cho nhiều khu vực để ngày nào cũng được khai thác. Nước vào ruộng thì người dân đẩy “côn”, cái côn này được làm bằng thanh tre dài, cứ mỗi 5cm gắn 1 thanh sắt nhỏ, đặt cái côn trên chiếc ghe nhỏ để lướt. Khi côn trúng cá sẽ làm cá chuôi xuống nước tạo bọt hay còn gọi là “tim”. Lúc này sử dụng nôm, nôm xuống điểm lên tim, cho tay vào miệng nôm để bắt cá lên. Chủ yếu cách thức này bắt được toàn cá lớn và không khai thác được các loại cá nhỏ. Bên cạnh đó, khi nói đến các ngư cụ, không thể quên được những chiếc lọp với đầy ắp cá, tôm, cua, ốc.

 

            Khi nước lũ đã về lớn hơn, đạt đỉnh điểm chúng ta sẽ thấy nhiều các tàu ghe đánh bắt cá thực hiện thả lưới đánh cá, đóng đáy giữa dòng sông, hay nhiều hộ sẽ bắt đầu thực hiện bằng những chiếc “gió” tại nhà khi chỉ cần kéo lên vớt cá và thả lại dòng sông. Tuy nhiên, giữa nhiều cách đánh bắt độc đáo, vẫn có một loại hình đánh bắt chỉ có ở vùng Tân Châu, tỉnh An Giang. Đó chính là Đẩy dồn bắt cá linh, thường diễn ra khi mùa nước nổi về. Công việc này thường không diễn ra quanh năm, chỉ rơi vào các tháng nước đổ về. Đẩy dồn được tạo thành từ hai cây đòn dài, mắc vào khoảng 20m vuông lưới. Sau khi ghe đẩy được một đoạn khoảng 10 phút để dồn cá về đáy lưới, khoảng 4-5 người ngồi trên đòn bẩy để miệng lưới bật lên và kéo lưới lên mặt để thu cá. Thú vị thêm ở chổ, cá sau khi thu hoạch người dưới ghe đẩy cho cá vào túi được rồi ném vào bờ để bán trực tiếp cho khách. Sau mỗi mùa khai thác khoảng 2 tháng, người dân tháo lưới để năm sau tiếp tục sử dụng và mỗi năm chỉ cần thay 2 cây đòn mới là có thể khai thác hiệu quả. Bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều nghề khai thác thủy sản khác đặc trưng trên sông như đóng đáy, đặt nò, đăng cá… gắn liền với lịch sử khai thác lâu đời của người dân sông nước miền Tây.

 

         Ngày nay, cá tôm hiện đã không còn nhiều như trước, thậm chí có nhiều loài không còn xuất hiện nửa. Các ngư cụ từ xưa như vó, côn, xà di, lọp nhủi… sử dụng để đánh bắt không còn đạt hiệu quả, kém xa các ngư cụ tiên tiến ngày nay. Từ đó, những cách thức, ngư cụ khai thác thủy sản đặc trưng trên sông cũng đã dần mai một. Thay vào đó, các tấm lưới với chằng chịt các loại lưới, mắc lưới thì dầy hơn để đánh bắt nhiều hơn, chuyển sang sử dụng các phương tiện, dụng cụ đánh bắt bằng điện và đánh bắt luôn những con cá đang ôm trứng, con non cộng với tác động của khí hậu khiến nước nóng hơn dẫn đến các loại thủy sản hầu như cạn kiệt. Bởi mới thấy, không chỉ việc ảnh hưởng từ các hoạt động phía các quốc gia thượng nguồn hay biến đổi khí hậu mà chính cách chúng ta khai thác đã góp phần to lớn trong việc làm tận diệt nguồn thủy sản mà từ trước đến nay mình vẫn luôn tự hào là dồi dào.