Sinh kế mùa lũ cho người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long

     Canh tác thâm canh, tăng vụ sản xuất ngày càng kém hiệu quả và mang lại nhiều bất lợi cho nguồn tài nguyên đất và nước. Rất nhiều địa phương tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã chuyển đổi cơ cấu trở lại giống với những năm về trước khi chỉ sản xuất hai vụ và cho lũ vào đồng. Từ đây, sinh kế của một số hộ dân bị thay đổi, nhiều hộ dân không có việc làm, thiếu nguồn thu nhập vào mùa lũ đặc biệt là với các hộ nghèo, cận nghèo. Để thích nghi với điều kiện hiện tại và giúp cải thiện vấn đề an sinh xã hội cho người dân, nhiều mô hình sinh kế vào mùa lũ xuất hiện, hỗ trợ cho người dân và tạo ra nhiều công việc làm tại thời điểm lũ về.

      Phải kể đến đầu tiên là dự án nuôi cá mùa lũ tại một số xã thuộc huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Với mục đích mang lại một mô hình sinh kế mới cho người dân, tận dụng nguồn lợi thủy sản sẳn có và giúp người dân trong khu vực cải thiện cuộc sống. Dự án phát triển mô hình ‘Nuôi cá mùa lũ’ được thực hiện từ năm 2018, được tài trợ bởi IUCN và một số nhãn hàng, hổ trợ người dân thực hiện thí điểm mô hình đến năm 2021. Đây được kỳ vọng là mô hình sẽ được phổ biến rộng rãi tại nhiều địa phương, chuyển đổi mô hình cho người dân vừa tăng thu nhập cho người dân và vừa giúp giảm thiểu phát thải, thân thiện với môi trường. Theo chú Châu, một trong những nông dân thực hiện mô hình trên cho biết :” Thay vì trước đây tôi sản xuất lúa 2 vụ, sau đó bỏ không đất và không làm gì. Được dự án của huyện kêu gọi, tôi bỏ vốn, cải thiện lại diện tích canh tác lúa của mình để vừa kết hợp giữ nước trên đồng vào mùa khô và mùa lũ tôi cho nước vào để nuôi cá. Cá giống được tài trợ một phần, số khác là theo nước tự nhiên vào. Với 2,5 ha đất, trừ tất cả chỉ phí tôi lãi được hơn 80 triệu đồng”.

     Mô hình trên có thể hiểu khai quát như sau: Với diện tích canh tác lúa thường ngày sẽ được đào mương, tạo rảnh xung quanh nhằm tạo ra một khoảng đất riêng biệt, có đường bờ cao hơn so với các diện tích đất khác. Điều này vừa giúp trữ nước cho mùa khô còn có thể tận dụng để nuôi trồng một vài thực vật, sinh vật. Đến thời điểm nước lũ về, người dân sẽ kéo lưới bao phủ diện tích đất của mình theo rãnh mương đã làm trước đó và cho nước vào. Việc này vừa giữ cá thiên nhiên ở lại và vừa đánh dấu khu vực cấm sự khai thác từ người dân địa phương, đảm bảo được nguồn lợi không bị thất thoát. Mùa lũ cạn cũng là lúc người dân khai thác, lưới và hệ thống cống rãnh sẽ được thu gom, đưa về hiện trạng ban đầu để tiếp tục mùa vụ.

     Cũng trong khuôn khổ dự án của IUCN, mô hình 2 lúa- 1 sen cũng được thực hiện tại huyện Tân Hưng, tỉnh  Long An. Mô hinh kết hợp 2 vụ lúa chính vụ và canh tác sen vào mùa lũ. Vụ sen vào mùa lũ cũng được giá hơn so với những thời điểm khác. Không chỉ tận dụng mô hình để khai thác gương sen, người dân ở Tân Hưng còn kết hợp làm du lịch sinh thái mùa nước lũ, nuôi thủy sản bên dưới diện tích canh tác sen. Mô hình tác động không chỉ đến thu nhập của người thực hiện mô hình, người dân ở khu vực đặc biệt là phụ nữ cũng có việc làm ổn định dựa vào việc làm thuê, mướn cho công việc thu hoạch các sản phẩm từ cây sen. có khoảng 150ha theo kế hoạch được triển khai thực hiện, mong muốn của dự án trong tương lai con số này sẽ tăng lên nhiều và tại thành một sinh kế ổn định cho người dân nơi đây. Thời điểm kết thúc vụ lúa, người dân sẽ thực hiện cấy con sen trên cánh đồng canh tác của mình. Giai đoạn đầu sen con rất dễ bị chuột và ốc tấn công nên công đoạn sử lí vấn đề này luôn được quan tâm cẩn thận. Sau giai đoạn sen đã có lá đứng cũng là lúc nước lũ vào đầy đồng.  Nếu có kết hợp nuôi cá, người dân sẽ rào lưới khu vực canh tác của mình lại và thả cá. Quá trình canh tác này cây sen chủ yếu phát triển tự nhiên, hoàn toàn không sử dụng phân bón, thuốc BVTV. Người dân sẽ thu hoạch hoa, lá, ngói, gương  sen tùy vào mục đích khai thác cây sen. Giai đoạn thu hoạch kéo dài đến khi nước cạn đi và chuẩn bị vào vụ mùa mới. Đây cũng là một mô hình tạo ra công việc làm cho người dân lao động nhàn rỗi đặc biệt là với phụ nữ trong khu vực.

     Đối với các hộ dân không có nhiều đất canh tác, việc lựa chọn các mô hình trên là bất khả thi, chính vì thế nhiều nông dân chọn cho mình hướng đi khác. Nổi bật lên là mô hình nuôi lươn không bùn, với việc tận dụng nguồn lợi thủy sản vào mùa lũ là mô hình nổi bật. Tận dụng mùa lũ về, trước đó người dân sẽ thu mua lươn khai thác được từ thiên nhiên của người dân trong khu vực. Tiếp theo họ đầu tư xây dựng các bồn tiền chế với diện tích phù hợp với diện tích đất sẳn có. Chỉ tốn công thay nước thường xuyên, cho ăn mỗi ngày. Thức ăn pha trộn ốc, cá từ việc đánh bắt tự nhiên, giúp giảm chi phí và tối đa lợi nhuận.  Lươn được nuôi trong 8- 10 tháng là thu hoạch. Mỗi bồn nuôi theo mô hình này giúp tiết kiệm tiền thức ăn công nghiệp từ 2- 3 triệu đồng. Sau khi thu hoạch, trừ hết chi phí tùy theo giá bán mà mỗi bồn nuôi lươn cho lợi luận từ 3 – 6 triệu đồng.

     Ổn định việc làm và tạo ra việc làm cho phụ nữ vào mùa lũ cũng được hỗ trợ và quan tâm. Các lớp tào đạo, hướng dẫn cho nghề kéo tơ sen được thực hiện tại tỉnh An Giang và Đồng Tháp được rất nhiều người ủng hộ. Các lớp tập huấn hướng dẫn cho người dân từng bước từ các công đoạn ban đầu cho đến hình thành sợi tơ sen. Tơ sen sau khi được dệt sẽ tạo ra loại vải không kém tơ tầm, bên cạnh đó còn mang giá trị cao. Nhiều chị em phụ nữ hứng khởi và thích thú với mô hình này và nhiều người hy vọng đây sẽ là công việc ổn định để bản thân có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống.

    Với nhiều mô hình mới mẻ và hổ trợ từ các cấp, các nhà tài trợ cũng như các đơn vị thực hiện, tất cả điều mong rằng có người dân tại khu vực ĐBSCL có cuộc sống tốt hơn, có được sinh kế phù hợp nhằm ổn định cuộc sống và thân thiện với môi trường. Ngoài nhiều giá trị tích cực mang lại từ các mô hình, song song với đó là các vấn đề khó khăn và hạn chế của các mô hình. Có thể kể đến một số vấn đề như: thương lái thu mua áp đặt giá lên người dân sản xuất; các mô hình cần có nguồn vốn nhiều hoặc diện tích canh tác lớn; cần nhiều sự hỗ trợ bởi các cơ quan, kỹ thuật viên hướng dẫn bởi người thực hiện thiếu kinh nghiệm sản xuất; người dân sản xuất tốt do có sự hỗ trợ đắc lực từ nguồn vốn cho đến các vấn đề khác nên mới đồng ý thực hiện… Còn rất nhiều các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc không thể phổ triển các mô hình rộng khắp các khu vực được xả lũ. Tuy nhiên, nhìn vào mặt tích cực các yếu tố kể trên có thể khắc phục và trong tương lai gần mong các mô hình sẽ cải thiện phù hợp để cho người dân có cuộc sống ổn định hơn.